Long an là gì? Các công bố khoa học về Long an
Long an là một tỉnh nằm ở miền Tây Nam Bộ của Việt Nam. Tỉnh này có diện tích khoảng 4491,2 km² và dân số khoảng 1,8 triệu người vào năm 2021. Long An nằm ở vùn...
Long an là một tỉnh nằm ở miền Tây Nam Bộ của Việt Nam. Tỉnh này có diện tích khoảng 4491,2 km² và dân số khoảng 1,8 triệu người vào năm 2021. Long An nằm ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều kênh mương và sông ngòi, là nơi sản xuất nông nghiệp phát triển với các cây trồng như lúa, cây lương thực và các loại cây công nghiệp khác. Ngoài ra, tỉnh cũng có các ngành công nghiệp và dịch vụ phát triển như bất động sản, xây dựng và du lịch.
Long An là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long, giáp ranh với các tỉnh Tiền Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp, Bạc Liêu, Vĩnh Long và thành phố Hồ Chí Minh.
Tỉnh Long An có địa hình đa dạng với hệ thống sông ngòi và kênh mương phong phú. Đồng bằng sông Cửu Long trải dài khắp tỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi. Đặc biệt, Long An nổi tiếng là vùng đất của "hàng trăm con kênh" với hệ thống kênh, đập chính quan trọng như Kênh Đức-Hồng Vương hay Kênh Đa Lộc, chủ yếu được xây dựng từ thế kỷ 19 để tưới tiêu và phục vụ giao thông.
Nông nghiệp là ngành kinh tế chủ lực của tỉnh Long An. Với đất đai màu mỡ và hệ thống kênh mương phong phú, tỉnh đã phát triển sản xuất lúa, cây công nghiệp (như cao su, cà phê, tiêu, bông), cây lâu năm (như xoài, dừa) và chăn nuôi gia súc.
Ngoài nông nghiệp, Long An cũng có sự phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ. Các khu công nghiệp và khu chế xuất được thành lập trên địa bàn tỉnh, tập trung vào các ngành sản xuất điện tử, cơ khí, gỗ, may mặc và thực phẩm. Đặc biệt, khu Công nghệ cao Long Hậu là một trong những khu công nghệ cao hàng đầu ở Việt Nam, thu hút các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin và truyền thông, đồng thời tạo nhiều việc làm cho địa phương.
Trong lĩnh vực du lịch, Long An cũng có nhiều điểm đến thú vị. Một số điểm nhấn bao gồm Cụm di tích lịch sử, văn hóa Nhà bè cổ, Khu du lịch Đoan Hùng, đền Trần Hòa, khu du lịch Sinh thái Đồng Sen, ẩm thực vùng sông nước Long An và các làng nghề truyền thống như làng nghề mộc, làng nghề gốm sứ, và làng nghề thủ công mỹ nghệ.
Tỉnh Long An cũng có vị trí địa lý thuận lợi, giao thông thuận tiện với các tuyến đường quốc lộ, cao tốc và sân bay Tân Sơn Nhất ở thành phố Hồ Chí Minh cách không xa. Điều này giúp kết nối giữa Long An với các vùng kinh tế lân cận và tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế, du lịch và thương mại của tỉnh.
Danh sách công bố khoa học về chủ đề "long an":
Một hàm mật độ mới (DF) thuộc loại xấp xỉ gradient tổng quát (GGA) cho các ứng dụng hóa học chung có tên là B97‐D được đề xuất. Nó dựa trên phương án chuỗi lũy thừa của Becke từ năm 1997 và được tham số hóa rõ ràng bằng cách bao gồm các hiệu chỉnh phân tán cặp nguyên tử dạng triệt tiêu
Nghiên cứu hiện tại phát triển và kiểm tra một mô hình lý thuyết mở rộng của Mô Hình Chấp Nhận Công Nghệ (TAM) nhằm giải thích sự hữu ích cảm nhận và ý định sử dụng dựa trên ảnh hưởng xã hội và các quá trình nhận thức công cụ. Mô hình mở rộng, gọi là TAM2, đã được thử nghiệm bằng cách sử dụng dữ liệu theo chiều dọc thu thập được từ bốn hệ thống khác nhau tại bốn tổ chức (N = 156), trong đó hai hệ thống có tính chất sử dụng tự nguyện và hai hệ thống bắt buộc. Các cấu trúc mô hình được đo lường tại ba thời điểm tại mỗi tổ chức: trước khi triển khai, một tháng sau khi triển khai, và ba tháng sau khi triển khai. Mô hình mở rộng nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ cho cả bốn tổ chức ở cả ba thời điểm đo lường, chiếm tới 40%–60% sự biến thiên trong cảm nhận về tính hữu ích và 34%–52% sự biến thiên trong ý định sử dụng. Cả hai quá trình ảnh hưởng xã hội (chuẩn mực chủ quan, tính tự nguyện, và hình ảnh) và các quá trình nhận thức công cụ (liên quan đến công việc, chất lượng kết quả, khả năng chứng minh kết quả, và cảm nhận về sự dễ sử dụng) đều có ảnh hưởng đáng kể đến sự chấp nhận của người sử dụng. Những phát hiện này nâng cao lý thuyết và đóng góp vào cơ sở cho nghiên cứu trong tương lai nhằm cải thiện việc hiểu biết về hành vi chấp nhận của người dùng.
Motivation: Many programs for aligning short sequencing reads to a reference genome have been developed in the last 2 years. Most of them are very efficient for short reads but inefficient or not applicable for reads >200 bp because the algorithms are heavily and specifically tuned for short queries with low sequencing error rate. However, some sequencing platforms already produce longer reads and others are expected to become available soon. For longer reads, hashing-based software such as BLAT and SSAHA2 remain the only choices. Nonetheless, these methods are substantially slower than short-read aligners in terms of aligned bases per unit time.
Results: We designed and implemented a new algorithm, Burrows-Wheeler Aligner's Smith-Waterman Alignment (BWA-SW), to align long sequences up to 1 Mb against a large sequence database (e.g. the human genome) with a few gigabytes of memory. The algorithm is as accurate as SSAHA2, more accurate than BLAT, and is several to tens of times faster than both.
Availability: http://bio-bwa.sourceforge.net
Contact: [email protected]
Change is constant in everyday life. Infants crawl and then walk, children learn to read and write, teenagers mature in myriad ways, and the elderly become frail and forgetful. Beyond these natural processes and events, external forces and interventions instigate and disrupt change: test scores may rise after a coaching course, drug abusers may remain abstinent after residential treatment. By charting changes over time and investigating whether and when events occur, researchers reveal the temporal rhythms of our lives. This book is concerned with behavioral, social, and biomedical sciences. It offers a presentation of two of today's most popular statistical methods: multilevel models for individual change and hazard/survival models for event occurrence (in both discrete- and continuous-time). Using data sets from published studies, the book takes you step by step through complete analyses, from simple exploratory displays that reveal underlying patterns through sophisticated specifications of complex statistical models.
Trong 15 năm qua, một số lượng lớn các nghiên cứu đã được tiến hành nhằm xác định các yếu tố góp phần vào sự thành công của hệ thống thông tin. Tuy nhiên, biến phụ thuộc trong những nghiên cứu này—thành công của hệ thống thông tin—vẫn là một khái niệm khó xác định. Các nhà nghiên cứu khác nhau đã tiếp cận các khía cạnh khác nhau của sự thành công, khiến cho việc so sánh trở nên khó khăn và viễn cảnh xây dựng một truyền thống tích lũy cho nghiên cứu hệ thống thông tin cũng trở nên khó khăn. Để tổ chức nghiên cứu đa dạng này, cũng như để trình bày một cái nhìn tích hợp hơn về khái niệm thành công của hệ thống thông tin, một phân loại toàn diện được giới thiệu. Phân loại này đề xuất sáu chiều kích hoặc danh mục chính của thành công hệ thống thông tin—CHẤT LƯỢNG HỆ THỐNG, CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN, SỬ DỤNG, SỰ HÀI LÒNG CỦA NGƯỜI DÙNG, TÁC ĐỘNG CÁ NHÂN, và TÁC ĐỘNG TỔ CHỨC. Sử dụng các chiều kích này, cả các nghiên cứu khái niệm lẫn thực nghiệm được xem xét (tổng cộng có 180 bài báo được trích dẫn) và được tổ chức theo các chiều kích trong phân loại. Cuối cùng, nhiều khía cạnh của sự thành công của hệ thống thông tin được tập hợp lại thành một mô hình mô tả và các hàm ý cho nghiên cứu hệ thống thông tin trong tương lai được thảo luận.
Một mô hình khảm lỏng được trình bày về tổ chức và cấu trúc thô của các protein và lipid trong màng sinh học. Mô hình này phù hợp với các giới hạn áp đặt bởi nhiệt động lực học. Trong mô hình này, các protein có vai trò quan trọng trong màng là một tập hợp không đồng nhất các phân tử hình cầu, mỗi phân tử được sắp xếp theo cấu trúc
cho thấy các hiệu ứng đáng kể được tạo ra trên bạch cầu lympho khi bổ sung các kháng thể nhắm vào các phân tử miễn dịch bề mặt của chúng. Các kháng thể gây ra sự tái phân bố và ẩm bào của các phân tử miễn dịch bề mặt này, do đó trong khoảng 30 phút ở 37°C, các phân tử miễn dịch bề mặt hoàn toàn bị loại ra khỏi màng. Những hiệu ứng này không xảy ra, tuy nhiên, nếu các kháng thể hoá trị đôi được thay thế bằng các đoạn Fab hoá trị đơn của chúng hoặc nếu các thí nghiệm kháng thể được thực hiện ở 0°C thay vì 3°C. Những kết quả này và các kết quả liên quan khác mạnh mẽ chỉ ra rằng các kháng thể bivalen tạo ra sự tập hợp của các phân tử miễn dịch bề mặt ở cấu trúc mặt phẳng của màng, điều này chỉ xảy ra nếu các phân tử miễn dịch có thể tự do khuếch tán trong màng. Sự tập hợp sau đó kích hoạt ẩm bào các thành phần màng bằng một cơ chế chưa được biết đến. Những biến đổi màng như vậy có thể có tầm quan trọng rất lớn trong việc kích thích phản ứng kháng thể đối với kháng nguyên, cũng như trong các quá trình khác của sự phân hóa tế bào.
- 1
- 2
- 3
- 4
- 5
- 6
- 10